Bảng đổi đơn vị thời gian
Mỗi đơn vị theo giây và theo ngày, tách riêng các đơn vị chính xác với hai đơn vị quy ước.
| Đơn vị | Giây | Theo ngày | Chính xác? |
|---|---|---|---|
| 1 giây | 1 | 0,000011574074 | Chính xác |
| 1 phút | 60 | 0,00069444444 | Chính xác |
| 1 giờ | 3.600 | 0,041666667 | Chính xác |
| 1 ngày | 86.400 | 1 | Chính xác |
| 1 tuần | 604.800 | 7 | Chính xác |
| 1 tháng | 2.629.800 | 30,4375 | Quy ước |
| 1 năm | 31.557.600 | 365,25 | Năm Julius |
- Tháng ở đây là một giá trị trung bình, không phải tháng dương lịch. Không tháng thực nào dài 30,4375 ngày — con số ấy là một phần mười hai của năm Julius, và chính vì thế mười hai tháng dựng lại đúng một năm.
- Năm Julius 365,25 ngày là đơn vị thời gian do Liên đoàn Thiên văn Quốc tế định nghĩa và là nền tảng của năm ánh sáng. Năm dương lịch Gregory trung bình là 365,2425 ngày; chênh lệch vào khoảng mười một phút mỗi năm.
- Ngày được ấn định đúng 86.400 giây. Vòng quay thực của Trái Đất trôi lệch khỏi con số đó, và vì vậy 27 giây nhuận đã được chèn vào UTC từ năm 1972 đến 2016; Văn phòng Cân đo Quốc tế đã quyết định ngừng dùng chúng trước năm 2035.
Đổi đơn vị thời gian là gì?
Đổi khoảng thời gian là quy đổi một lượng thời gian đã trôi qua sang thang đơn vị khác. Giây là đơn vị cơ bản của SI, được định nghĩa từ năm 1967 theo tần số chuyển siêu tinh tế của cesi-133 là 9.192.631.770 Hz. Mọi đơn vị cho tới tuần đều là bội số chính xác của nó: 60 giây một phút, 60 phút một giờ, 24 giờ một ngày và 7 ngày một tuần.
Quá tuần thì tính chính xác chấm dứt. Tháng dương lịch dài từ 28 đến 31 ngày và năm dương lịch từ 365 đến 366 ngày, nên đổi một khoảng thời gian sang tháng hoặc năm buộc phải chọn một giá trị trung bình. Công cụ này dùng năm Julius đúng 365,25 ngày — đơn vị thời gian do Liên đoàn Thiên văn Quốc tế định nghĩa và là nền tảng của năm ánh sáng — và lấy tháng bằng một phần mười hai của nó: 30,4375 ngày.
Quy ước còn lại là năm dương lịch Gregory trung bình 365,2425 ngày, có tính tới quy tắc năm nhuận thế kỷ. Hai con số chênh nhau khoảng 0,002%, tức chừng mười một phút mỗi năm: không đáng kể với khoảng thời gian vài tuần, nhưng đáng biết với khoảng trải dài hàng thế kỷ. Công cụ này dành cho khoảng thời gian, không dành cho ngày tháng: để đếm số ngày giữa hai ngày dương lịch, kể cả năm nhuận thật, hãy dùng các công cụ tính ngày trên trang này.
Cách dùng công cụ đổi đơn vị thời gian
- Nhập khoảng thời gian bạn muốn đổi.
- Chọn đơn vị của nó, từ mili giây cho tới năm.
- Đọc giá trị tương đương ở tất cả các đơn vị khác cùng lúc.
- Với bất cứ điều gì gắn với ngày dương lịch thật — tuổi, hạn chót, tiến độ dự án — hãy dùng công cụ tính ngày, để độ dài tháng thật và năm nhuận được áp dụng.
Các hệ số đằng sau công cụ đổi thời gian
Khoảng thời gian được đổi sang giây, rồi chia cho số giây của từng đơn vị đích. Năm hệ số đầu là chính xác; tháng và năm là những quy ước đã nêu.
Ví dụ: 90 phút = 90 × 60 = 5.400 giây. Theo giờ: 5.400 ÷ 3.600 = 1,5 h. Theo ngày: 5.400 ÷ 86.400 = 0,0625 ngày. Theo tuần: 5.400 ÷ 604.800 = 0,0089285714 tuần.
Những lỗi thường gặp
- Dùng công cụ này cho phép tính lịch. Ba tháng kể từ ngày 31 tháng 1 không phải là 91,3 ngày theo bất kỳ nghĩa hữu ích nào — công cụ tính ngày mới xử lý độ dài tháng thật.
- Cho rằng một tháng là 30 ngày. Quy ước đó tồn tại trong tài chính, nhưng nó khiến mười hai tháng chỉ còn 360 ngày, ít hơn một năm tới năm ngày rưỡi phần tư.
- Đọc giờ thập phân thành giờ và phút. 1,5 giờ là một giờ ba mươi phút; 1,5 không phải 1 giờ 5 phút.
- Trộn định nghĩa năm Julius và năm Gregory trong cùng một phép tính trải dài, nơi chênh lệch mười một phút mỗi năm cứ dồn lại.
Câu hỏi thường gặp
Một ngày có bao nhiêu giây?
Đúng 86.400 — 24 giờ, mỗi giờ 60 phút, mỗi phút 60 giây. Đó là định nghĩa của ngày với tư cách một đơn vị thời gian. Chu kỳ tự quay thực của Trái Đất lệch nhẹ khỏi con số này, và đó chính là điều mà các giây nhuận của UTC đã hiệu chỉnh cho tới khi chúng được cho nghỉ trước năm 2035.
Một tháng có bao nhiêu ngày?
Tháng dương lịch dài từ 28 đến 31 ngày, nên một công cụ đổi buộc phải chọn giá trị trung bình. Công cụ này dùng 30,4375 ngày, tức một phần mười hai của năm Julius, để mười hai tháng dựng lại đúng một năm. Với bất cứ điều gì gắn với ngày thật, hãy dùng công cụ tính ngày thay vì một giá trị trung bình.
Vì sao ở đây một năm là 365,25 ngày?
Vì đó là năm Julius, đơn vị thời gian do Liên đoàn Thiên văn Quốc tế định nghĩa và là nền tảng của năm ánh sáng. Năm dương lịch Gregory trung bình, vốn bao gồm quy tắc năm nhuận thế kỷ, là 365,2425 ngày. Hai con số chênh nhau khoảng mười một phút mỗi năm — không đáng kể với khoảng thời gian ngắn, và được nêu ở đây để bạn biết mình đang dùng loại nào.
90 phút là bao nhiêu giờ?
1,5 giờ. Chia số phút cho 60: 90 ÷ 60 = 1,5. Lưu ý rằng 1,5 giờ nghĩa là một giờ ba mươi phút, không phải một giờ năm phút — giờ thập phân và cách viết giờ-phút là hai ký hiệu khác nhau, và nhầm lẫn giữa chúng là lỗi phổ biến nhất trên bảng chấm công.
Công cụ này khác gì công cụ tính ngày?
Công cụ này đổi một khoảng thời gian — một lượng thời gian đã trôi qua — bằng các độ dài đơn vị cố định. Công cụ tính ngày làm việc giữa hai ngày dương lịch và áp dụng độ dài tháng thật cùng năm nhuận. Dùng công cụ này để đổi 5.400 giây sang giờ; dùng công cụ tính ngày để biết còn bao nhiêu ngày nữa tới một ngày cụ thể.
Tài liệu tham khảo
- Bureau International des Poids et Mesures (BIPM). The International System of Units (SI Brochure), 9th edition, 2019 — definition of the second, and the minute, hour and day as non-SI units accepted for use with the SI.
- International Astronomical Union. IAU (1976) System of Astronomical Constants — the Julian year of exactly 365.25 days, the basis of the light-year.